[27] Thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lý: Xét riêng một số lô dầu khí của Việt Nam ở phía nam Biển Đông

Theo Điều 76 của Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) quốc gia ven biển có thể có tối thiểu 200 hải lý thềm lục địa và mở rộng vượt quá giới hạn đó nếu rìa lục địa tự nhiên kéo dài xa hơn.[1] Đối với thềm lục địa, bao gồm cả thềm lục địa trong và vượt quá 200 hải lý quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác tài nguyên sinh vật và phi sinh vật.[2] Quyền chủ quyền này hiện hữu hiển nhiên và mặc định, không phụ thuộc vào việc quốc gia ven biển có chiếm hữu hay ra tuyên bố hay không.[3]

Năm 2009 Việt Nam đã chính thức thể hiện quan điểm đối với thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thông qua hai đệ trình lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS). Việt Nam xác định một vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ở phía bắc Biển Đông và ở phía nam Biển Đông. Riêng phần thềm lục địa mở rộng phía nam Biển Đông, Việt Nam và Malaysia đệ trình chung, theo đó đây là khu vực mà được hai nước xem là thềm lục địa chồng lấn vượt quá 200 hải lý. Tuy nhiên do có phản đối từ Trung Quốc và Philippines CLCS sẽ không xem xét các đệ trình này.

1

Hình 1. Vị trí hai khu vực thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lý của Việt Nam và Malaysia (màu cam). Nguồn: Clive Schofield và Andi Arsana, (ANCORS)

Trong khu vực thềm lục địa phía nam Biển Đông bao gồm cả phần bên trong và bên ngoài 200 hải lý, Việt Nam thông qua Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (PetroVietnam) đã tiến hành phân lô và đấu thầu thăm dò, khai thác dầu khí.[4]

2

Hình 2. Phân lô dầu khí ở khu vực phía nam Biển Đông

Một số lô ở khu vực phía nam này có vị trí khá đặc biệt khi nằm vắt ngang đường giới hạn 200 hải lý, như các lô 136/03, 157, 158, 159 và 160. Riêng lô 160 gần như nằm hoàn toàn ở phần thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lý – phần thềm lục địa chồng lấn với Malaysia.

3

Hình 3. Vị trí các lô dầu khí và đường 200 hải lý. Nguồn: https://twitter.com/bill_hayton/status/877409794918895616

Quy chế pháp lý của hai phần thềm lục địa này có điểm khác biệt. Thứ nhất, đối với phần nằm trong phạm vi 200 hải lý, Việt Nam có quyền chủ quyền gần như chắc chắn trong việc thăm dò, khai thác tài nguyên, bao gồm dầu khí. Hơn nữa theo Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, các đảo của quần đảo Trường Sa không thể tạo ra thềm lục địa do chúng chỉ có thể là đảo đá theo Điều 121(3). Do đó không chồng lấn với thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào; đây là vùng thềm lục địa chỉ thuộc về Việt Nam. Như vậy Việt Nam có quyền chủ quyền độc quyền đối với việc thăm dò và khai thác dầu khí trong khu vực này.

Thứ hai, đối với phần nằm ngoài phạm vi 200 hải lý, một số quy định của Công ước cần được xem xét đến như quy định tại Điều 76 về việc ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng chỉ được xem là cuối cùng và ràng buộc nếu dựa trên cơ sở khuyến nghị của CLCS và Điều 83 liên quan đến phân định biển và nghĩa vụ kiềm chế tiền phân định.[5] Theo quy định tại Điều 76(8) ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý sẽ được xem là chung thẩm và ràng buộc nếu được xác lập dựa trên khuyến nghị của Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS).[6] Thềm lục địa vượt quá 200 hải lý giữa Việt Nam và Malaysia, nơi có một phần của 05 lô dầu khí trên, đã được đệ trình lên CLCS nhưng Ủy ban chưa xem xét và đưa ra khuyến nghị. Đối với tình huống này, hiện nay có hai luồng quan điểm. Một là dù thềm lục địa mở rộng chưa có khuyến nghị của CLCS thì vẫn là thềm lục địa của quốc gia ven biển do quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa là quyền tự nhiên (inherent right). Vấn đề xác định ranh giới thềm lục địa trên cơ sở khuyến nghị của CLCS khác hoàn toàn với vấn đề quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa. Quan điểm thứ hai là cho đến khi nào ranh giới thềm lục địa mở rộng chưa được xác định trên cơ sở khuyến nghị của CLCS thì đây cần được xem là vùng đáy biển quốc tế. Nếu hoạt động dầu khí gần đây được Việt Nam cho phép thực hiện tại các phần nằm ngoài 200 hải lý của 05 lô trên thì sẽ cho thấy Việt Nam ủng hộ quan điểm đầu tiên. Việt Nam khẳng định đây là thềm lục địa của Việt Nam bất kể CLCS có xem xét và đưa ra khuyến nghị hay chưa. Về Điều 83, khi có vùng chồng lấn thì Công ước yêu cầu các bên phải phân định bằng thỏa thuận và trong giai đoạn chưa phân định được (giai đoạn tiền phân định) các bên có nghĩa vụ kiềm chế.[7]

Thứ ba, một vấn đề khác cũng cần quan tâm là việc khai thác các mỏ dầu khí nằm vắt ngang các giới hạn hoặc các ranh giới trên biển. Ví dụ như lô 136/03 nằm giáp với ranh giới phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia theo Hiệp định năm 2003.[8] Điều 4 của Hiệp định này quy định “Trong trường hợp có một cấu tạo mỏ dầu hoặc khí tự nhiên, hoặc mỏ khoáng sản khác dưới đáy biển nằm vắt ngang đường ranh giới nêu tại khoản 1 Điều 1, các Bên ký kết sẽ thông báo cho nhau mọi thông tin liên quan và thoả thuận về cách thức khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ nói trên và về việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác đó.” Nếu Việt Nam xác định có mỏ dầu khí tại lô 136/3 mà nằm vắt ngang đường ranh giới thì không được khai thác đơn phương mà cần thỏa thuận với Indonesia.

—————————————————————–

[1] Xem bài https://iuscogen.wordpress.com/2017/06/08/unclos-them-luc-dia-continental-shelf/#more-288

[2] Như trên.

[3] Như trên.

[4] Điều 14 Luật dầu khí năm 1993, sửa đổi năm 2008 quy định: “Tập đoàn dầu khí Việt Nam – Công ty mẹ, tên giao dịch quốc tế là VIETNAM OIL AND GAS GROUP, gọi tắt là PETROVIETNAM, viết tắt là PVN (sau đây gọi là Tập đoàn dầu khí Việt Nam) là công ty nhà nước được tiến hành các hoạt động dầu khí và ký kết hợp đồng dầu khí với tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí theo quy định của pháp luật.

[5] Xem thêm về nghĩa vụ kiềm chế tiền phân định tại bài https://iuscogen.wordpress.com/2017/03/15/nghia-vu-trong-vung-bien-chong-lan-them-luc-dia-va-dac-quyen-kinh-te-theo-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-1982/

[6] Xem thêm https://iuscogen.wordpress.com/2017/06/08/unclos-them-luc-dia-continental-shelf/#more-288

[7] https://iuscogen.wordpress.com/2017/03/15/nghia-vu-trong-vung-bien-chong-lan-them-luc-dia-va-dac-quyen-kinh-te-theo-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-1982/

[8] Hiệp định về phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia ngày 26 tháng 6 năm 2003.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: