[25] Hiệp định cấm vũ khí hạt nhân được thông qua ngày 07/07/2017

Nguồn tổng hợp từ: https://www.un.org/disarmament/ptnw/index.html

Ngày 07 tháng 07 năm 2017 Hội nghị Liên hợp quốc đàm phán một văn kiện ràng buộc pháp lý về cấm vũ khí hạt nhân đã thông qua dự thảo Hiệp định về cấm vũ khí hạt nhân. 122 quốc gia đồng ý (trong đó có Việt Nam), 01 quốc gia phản đối (Hà Lan) và 01 quốc gia bỏ phiếu trắng (Singapore). Các quốc gia không tham gia bỏ phiếu gồm: các nước có vũ khí hạt nhân (Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh, Nga, Ấn Độ, Pakistan). Israel bị nghi ngờ sở hữu vũ khí hạt nhân cũng không tham gia bỏ phiếu. Hầu hết tất cả các nước ở châu Âu (trừ Ireland, Cyrus, Áo, Vatican, Liechtenstein, Malta, Moldova, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ). Trong ASEAN, ngoại trừ Singapore bỏ phiếu trắng, 09 nước còn lại bỏ phiếu thuận.

Theo dự thảo Hiệp định ngày 06/7/2017 bao gồm các điều khoản chính như sau. Điều 1 yêu cầu tất cả các quốc gia thành viên “không bao giờ trong bất kỳ hoàn cảnh nào” phát triển, thử nghiệm, sản xuất, chế tạo, mua, sở hữu, tàng trừ, chuyển giao, nhận chuyển giao, nhận kiểm soát, sử dụng, đe doạ sử dụng vũ khí hạt nhân và các thiết bị nổ hạt nhân khác. Điều 1 cũng cấm việc hỗ trợ, khuyến khích hay dụ dỗ tham gia, tìm kiếm hay nhận hỗ trợ để tham gia vào các hoạt động bị cấm, cũng như cấm việc cho phép đặt, lắp đặt hay triển khai vũ khí hạt nhân hay các thiết bị nổ hạt nhân khác trên lãnh thổ hay bất kỳ đâu thuộc thẩm quyền hay sự kiểm soát của quốc gia thành viên. Tuy nhiên Điều 1 không cấm việc quá cảnh vũ khí hạt nhân.

Điều 2 quy định mỗi quốc gia phải đệ trình một tuyên bố cho Tổng thư ký Liên hợp quốc, trong đó nêu rõ liệu quốc gia đó có đã từng sở hữu, kiểm soát vũ khí hạt nhân hay đã huỷ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân của mình hay không, liệu quốc gia đó có hiện đang sở hữu hay kiểm soát vũ khí hạt nhân, và liệu quốc gia đó có cho phép quốc gia khác triển khai hay kiểm soát vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình hay không.

Điều 4 của dự thảo “Hướng đến loại bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân” đặt ra các nghĩa vụ cụ thể cho các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân. Điều này yêu cầu các quốc gia đang sở hữu hay kiểm soát vũ khí hạt nhân phải ngay lập tức đặt các vũ khí này khỏi trạng thái hoạt động, phá huỷ càng sớm càng tốt. Các quốc gia, mà sau ngày 07 tháng 07 năm 2017đã sở hữu hay kiểm soát vũ khí hạt nhân và đã loại bỏ chương trì vũ khí hạt nhân của mình, bao gồm việc loại bỏ hay chuyển đổi không thể đảo ngược tất cả các cơ sở liên quan đến vũ khí hạt nhân trước ngày có hiệu lực của Hiệp định ngày, sẽ hợp tác với tổ chức quốc tế có thẩm quyền được thành lập theo khoản 6 của Điều này để xác nhận việc loại bỏ trên. Tất cả các quốc gia trên phải ký kết thoả thuận bảo đảm với Cơ quan Năng lương Nguyên tử Quốc tế (IAEA) để có sự bảo đảm đầy đủ rằng các nguyên liệu hạt nhân không được sử dụng cho mục đích phi hoà bình và không có nguyên liệu hạt nhân không được khai báo ở quốc gia đó. Đối với những quốc gia cho phép quốc gia khác triển khai hay kiểm soát vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình phải bảo đảm việc tháo dỡ nhanh chóng các vũ khí này.

Điều 4 nêu trên không chỉ áp đặt nghĩa vụ liên các quốc gia đang có vũ khí hạt nhân mà cả các quốc gia đã từng có loại vũ khí này hay đã từng có chương trình phát triển vũ khí hạt nhân. Các quốc gia này có thể đã từ bỏ hay đã có tuyên bố từ bỏ vũ khí hạt nhân và các chương trình vũ khí hạt nhân của mình trong quá khứ nhưng Hiệp định vẫn mong muốn có sự bảo đảm xác thực về sự từ bỏ này bởi đây là những nước đã từng năm giữ hay có khả năng nắm giữ công nghệ liên quan đến vũ khí hạt nhân.

Dự thảo Hiệp định quy định Hiệp định này cần phải được phê chuẩn, chấp nhận hay chấp thuận (Điều 14) và sẽ có hiệu lực sau 90 ngày kể từ ngày mà văn bản phê chuẩn thứ 50 được nộp lưu chiểu (Điều 15).

Hiệp định cũng cấm hoàn toàn bảo lưu (Điều 16). Điều đặc biệt là Hiệp định cho phép các quốc gia thành viên rút khỏi Hiệp định. Điều 17 quy định “mỗi quốc gia thành viên, thực hiện chủ quyền quốc gia của mình, có quyền rút khỏi Hiệp định này nếu quốc gia này nhận thấy các sự kiện đặc biệt liên quan đến nội dung của Hiệp định đã làm tổn hại đến lợi ích tối cao của nước mình.” Như vậy Hiệp định công nhận các quốc gia có quyền rút khỏi Hiệp định theo chủ quyền quốc gia của mình. Tuy nhiên việc rút khỏi này phải thoả mãn ít nhất hai điều kiện: có sự kiện đặt biệt liên quan đến nội dung của Hiệp định (extraordinary events related to the subject matter of the Treaty) và các sự kiện đó làm tổn hại đến lợi ích tối cao của mình (jeopardized the supreme interests of its country). Việc rút khỏi chỉ có hiệu lực sau 12 tháng. Một điểm đặt biệt nữa là Điều 17(3) quy định “nếu khi hết hạn 12 tháng, quốc gia xin rút khỏi là một bên trong xung đột vũ trang, quốc gia này sẽ tiếp tục chịu ràng buộc bởi các nghĩa vụ của Hiệp định này và bất kỳ nghị định thư bổ xung nào cho đến khi nước này không còn là một bên trong xung đột vũ trang.” Quy định này có thể nhằm ngăn chặn trường hợp một quốc gia thành viên đang có xung đột vũ trang rút khỏi Hiệp định để có thể sử dụng, đe doạ sử hay hay cho phép triển khai vũ khí hạt nhân nhằm chống lại bên còn lại trong xung đột vũ trang. “Xung đột vũ trang” được sử dụng mà không có giới hạn cụ thể là xung đột vũ trang quốc tế (giữa các quốc gia) hay xung đột vũ trang phi-quốc tế (nội chiến).

Xem thêm: Tính hợp pháp của việc đe doạ sử dụng hay sử dụng vũ khí hạt nhân, tại https://iuscogen.wordpress.com/2017/04/09/tinh-hop-phap-cua-viec-de-doa-su-dung-hay-su-dung-vu-khi-hat-nhan/

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: