UNCLOS: Vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous zone)

Vùng tiếp giáp lãnh hải – Thực thi thẩm quyền về hải quan, tài chính, nhập cư và vệ sinh – Thẩm quyền đối với trục vớt các hiện vật khảo cổ và lịch sử

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngay bên ngoài của lãnh hải, và chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây là vùng biển có vẻ ít được các quốc gia quan tâm, cho đến gần đây chỉ có khoảng 90 quốc gia xác lập vùng tiếp giáp lãnh hải.[1] Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng từ sau khi Công ước Luật Biển được thông qua đã có ngày càng nhiều quốc gia xác lập vùng biển này. Theo lý giải của Tổng thư ký Liên hợp quốc trong một báo cáo năm 1992, có hai nguyên nhân chính cho xu hướng ngày: (i) vấn đề liên quan đến vận chuyển, mua bán chất ma túy đặt ra yêu cầu các quốc gia ven biển phải tăng cường các biện pháp ngăn chặn trên biển, và (ii) sự phát triển kỹ thuật liên quan đến trục vớt cổ vật dưới nước.[2]

Chỉ có ba điều khoản của UNCLOS điều chỉnh thực chất đến quy chế của vùng biển này, cụ thể Điều 33, 111 và 303. Điều 33 UNCLOS 1982 quy định vùng tiếp giáp lãnh hải rộng tối đa 24 hải lý tính từ đường cơ sở.

Trước đó, theo Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải 1958 (CTS), vùng tiếp giáp lãnh hải là một phần của biển cả và không được vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Đến UNCLOS III các quốc gia đồng ý lãnh hải rộng 12 hải lý và xác lập thêm vùng đặc quyền kinh tế, do đó đẩy biển cả ra xa khỏi đường cơ sở tối đa 200 hải lý. Điều này dẫn đến quy định tối đa 24 hải lý ở Điều 33 nêu trên.

Thực thi pháp luật hải quan, tài chính, nhập cư và vệ sinh

CTS 1958 và UNCLOS 1982 có quy định giống nhau về quy chế pháp lý của vùng biển này. Theo đó, quốc gia ven biển có thẩm quyền (control) để ngăn chặn và trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật quốc gia trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình đối với bốn lĩnh vực, cụ thể hải quan, tài chính, nhập cư và vệ sinh.[3] Thẩm quyền này giới hạn về lĩnh vực và phạm vi lãnh thổ và các biện pháp ngăn chặn hay trừng phạt chỉ có thể thực hiện nếu vi phạm đã xảy ra hay có chuẩn bị xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của quốc gia ven biển. Điều này cho thấy mục đích của việc xác lập vùng tiếp giáp lãnh hải khác hẳn với vùng lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế.[4] Vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm mục đích tăng cường phạt vi hoạt động của lực lượng thực thi pháp luật của quốc gia ven biển.

Nếu không có vùng tiếp giáp lãnh hải quốc gia ven biển sẽ không thể cưỡng chế trừng phạt các vi phạm của tàu thuyền vi phạm của nước ngoài khi tàu này chạy ra khỏi phạm vi lãnh hải. Đồng thời quốc gia ven biển cũng sẽ rất khó chủ động ngăn chặn các vi phạm có thể xảy ra khi không thể có biện pháp từ xa chống lại các tàu thuyền có ý định vi phạm. Chủ quyền của quốc gia ven biển đã chấm dứt tại ranh giới ngoài của lãnh hải, mà bên ngoài lãnh hải Công ước lại không cho phép các quốc gia có quyền trong các lĩnh vực nêu trên, do đó nếu không có vùng tiếp giáp lãnh hải, mọi hoạt động chấp pháp hải quan, nhập cư, tài chính và vệ sinh đều dừng lại tại tối đa 12 hải lý lãnh hải. Việc xác lập vùng tiếp giáp lãnh hải mở rộng tầm với của lực lượng chấp pháp do đó tăng cường khả năng truy bắt tàu thuyền vi phạm cũng như đẩy các tàu thuyền có ý định vi phạm ra xa bờ biển hơn, qua đó ngăn chặn tốt các vi phạm hơn.

Cùng với quyền truy đuổi nóng (hot pursuit) quy định ở Điều 111, quốc gia ven biển còn có thể truy đuổi tàu thuyền vi phạm trong các lĩnh vực trên vượt xa hơn hẳn phạm vi vùng tiếp giáp lãnh hải, với điều kiện việc truy đuổi bắt đầu xa nhất là trong vùng tiếp giáp lãnh hải.[5] Quyền truy đuổi nóng chỉ áp dụng khi quốc gia ven biển “có cơ sở hợp lý để tin rằng rằng tàu đã vi phạm pháp luật và quy định của quốc gia đó”, do đó không áp dụng như một biện pháp ngăn chặn.[6]

Quyền trục vớt các hiện vật khảo cổ và lịch sử

Điều 303(2) quy định việc trụt vớt các hiện vật khảo cổ và lịch sử khỏi đáy biển của vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có sự chấp thuận của quốc gia ven biển sẽ được giả định dẫn đến vi phạm các quy định trong các lĩnh vực nêu trong Điều 33 trong lãnh thổ hay lãnh hải của quốc gia ven biển. Như vậy để bảo vệ các cổ vật này trước việc trục vớt và mua bán không phù hợp, Công ước trao cho quốc gia ven biển quyền đối với việc trục vớt các cổ vật này. Cũng lưu ý rằng Điều 303 cũng quy định rằng quyền của quốc gia ven biển không ảnh hưởng đến các quyền của chủ sở hữu cổ vật, luật về trục vớt hay các quy định khác về hàng hải, luật pháp và thực tiễn liên quan đến trao đổi văn hóa, cũng như các thỏa thuận quốc tế hay quy định của luật quốc tế liên quan đến bảo vệ các cổ vật này.[7] Như vậy, quyền của quốc gia ven biển không phải là quyền sở hữu mà chỉ là quyền bảo đảm các hiện vật khảo cổ và lịch sử được trục vớt theo cách thức không ảnh hưởng đến cổ vật và quản lý tốt việc mua bán cổ vật này.

Trần H.D. Minh

——————————————————————-

[1] J. Ashley Roach and Robert W. Smith, Excessive Maritime Claims, Martinus Nijhoff, 2012, tr. 151.

[2] A/47/512, 1992, đoạn 13, 47 GOAR. Annexes, agenda item 32, trích lại trong S. N> Nandan, Shabtai Rosenne (eds.), United Nations Convention on the Law of the Sea 1982: A Commentary, Vol. II, Martinus Nijhoff, 1993, đoạn 33.8(i) [Virginia Commentary]

[3] CTS, Điều 24; UNCLOS, Điều 33.

[4] Virginia Commentary, Vol. 2, đoạn 33.1.

[5] UNCLOS, Điều 111.

[6] Như trên, Điều 111(1): “The hot pursuit of a foreign ship may be undertaken when the competent authorities of the coastal State have good reason to believe that the ship has violated the laws and regulations of that State.”

[7] UNCLOS, Điều 303(3) và (4).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: