Chủ quyền quốc gia

Trần H.D. Minh

Một số nhận định quan trọng của các học giả có uy tín trong lĩnh vực luật pháp quốc tế về khái niệm “Chủ quyền quốc gia” (Sovereignty):

  1. Luật pháp quốc tế được xây dựng dựa trên khái niệm quốc gia. Quốc gia lại được đặt trên nền tảng của chủ quyền quốc gia, được thể hiện như quyền lực tối cao của các thiết chế nhà nước bên trong quốc gia đó và bên ngoài quốc gia đó thể hiện là quyền lực tối cao của quốc gia với tư cách một chủ thể pháp lý.” (“International law is based on the concept of the state. The state in its turn lies upon the foundation of sovereignty, which expresses internally the supremacy of the governmental institutions and externally the supremacy of the state as a legal person.” – Malcolm N. Shaw, International Law, 6th ed., CUP, 2008, p. 487.)
  2. Thuật ngữ ‘Chủ quyền’ có rất nhiều cách sử dụng. Theo nghĩa nguyên gốc thuật ngữ này chỉ đến quyền lực tối cao bên trong một quốc gia – thuộc về vấn đề của luật hiến pháp hơn là pháp luật quốc tế, và là vấn đề mà ở nhiều quốc gia không được xem là một vấn đề thực sự. Theo nguyên tắc phân chia quyền lực, không có bất kỳ thiết chế nào bên trong một quốc gia có quyền lực toàn bộ; quyền lực sẽ được phân chia, nhưng quốc gia vẫn được xem là có ‘chủ quyền’. Luật pháp quốc tế để vấn đề phân chi quyền lực trong nội bộ quốc gia cho từng quốc gia quyết định. Luật pháp quốc tế xem mỗi quốc gia như một thực thể có chủ quyền, theo nghĩa rằng quốc gia mặc nhiên có toàn bộ thẩm quyền để hoạt động không chỉ bên trong quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế, để ký kết (hoặc không ký kết) các điều ước quốc tế và các cam kết khác, để quan hệ (hoặc không quan hệ) với quốc gia khác bằng nhiều cách thức, để đồng ý (hoặc không đồng ý) giải quyết các tranh chấp quốc tế.” (“The term ‘sovereignty’ has a variety of uses. In its origin it referred to supreme power within the state – an issue of constitutional rather than international law, and one which in many countries would be regarded as a non-issue. In accordance with the principle of separation of powers, there may be no single body within the state which has plenary authority; power is distributed, but the state remains ‘sovereign’. International law leaves the distribution of authority internally to each state. It regards each state as sovereign, in the sense that it is presumed to have full authority to act not only internally but at the international level, to make (or not to make) treaties and other commitments, to relate (or not to relate) to other states in a wide variety of ways, to consent (or not to consent) to resolve international disputes.”, James Crawford, Sovereignty as a legal value, in trong James Crawford and Martti Koskenniemi, Cambridge Companion to International Law, CUP, 2012, p. 118.
  3. Khi một luật sư quốc tế nói rằng quốc gia có chủ quyền thì họ chỉ có ý cho rằng quốc gia đó độc lập, và rằng quốc gia đó không phụ thuộc vào các quốc gia khác. Họ không có ý cho rằng quốc gia đó có thể theo bất kỳ cách thức nào đứng trên pháp luật. Sẽ tốt hơn nếu từ ‘chủ quyền’ được thay thế bằng từ ‘độc lập’. Trong chừng mực mà từ ‘chủ quyền’ có nghĩa vượt quá nghĩa ‘độc lập’ thì từ này không phải là một thuật ngữ pháp lý với một ý nghĩa cố định, mà thực chất là một thuật ngữ hoàn toàn mang tính cảm tính. Mọi người biết rằng các quốc gia rất hùng mạnh, nhưng việc quá tập trung vào chủ quyền đã khuyếch đại quyền lực của họ và khuyến khích họ lạm dụng nó…” (“When international lawyers say that a state is sovereign, all that they really mean is that it is independent, that is, that it is not a dependency of some other state. They do not mean that it is in any way above the law. It would be far better if the word ‘sovereignty’ were replaced by the word ‘independence’. In so far as ‘sovereignty’ mean anything in addition to ‘independence’, it is not a legal term with any fixed meaning, but a wholly emotive term. Everyone knows that states are powerful, but the emphasis on sovereignty exaggerates their power and encourages them to abuse it…”, Peter Malanczuk, Akehurst’s Modern Introduction to International Law, 7th ed., Routledge, 1997, p. 17-18).
  4. Chủ quyền quốc gia không phải là không bị giới hạn. Rất nhiều quy định của luật pháp quốc tế đặt ra giới hạn đối với chủ quyền. Bên cạnh các quy định điều ước, khác nhau giữa các Quốc gia, các giới hạn còn được đặt ra với chủ quyền quốc gia từ các quy định tập quán. Chúng là hệ quả pháp lý tự nhiên của nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền của các Quốc gia khác… Một Quốc gia có thể không được thực thi quyền lực chủa quyền của mình, hay can thiệp vào, các hoạt động được thực hiện hợp pháp bở Quốc gia khác trên lãnh thổ của chính mình. Sự bất lực pháp lý này bắt nguồn từ nguyên tắc chung áp đặt nghĩa vụ tôn trọng sự độc lập và danh dự của các Quốc gia khác (par in parem non habet imperium, nghĩa là, những người bình đẳng không có thẩm quyền với những người bình đẳng khác).” (“States sovereignty is not unfettered. Many international rules restrict it. In addition to treaty rules, which of course vary from State to State, limitations are imposed upon State sovereignty by customary rules. They are the natural legal consequence of the obligation to respect the sovereignty of other States… A State may not exercise its sovereign powers over, or otherwise interfere with, actions legally performed by foreign States in its territory. This legal inability stems from the general principle imposing respect for the independence and dignity of foreign States (par in parem non habet imperium, that is, equals have no jurisdiction over one another).” – Antonio Cassese, International Law, 2nd ed., OUP, 2005, p. 98.

***

Một câu hỏi cũng khá hay mà đôi khi sinh viên cũng đặt ra là “liệu việc một quốc gia ký kết nhiều điều ước quốc tế, với ngày càng nhiều các nghĩa vụ phải thực hiện, có làm cho chủ quyền quốc gia bị hạn chế dần hay không?”. Để trả lời câu hỏi này, xin trích lại ý kiến của Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (PCIJ) trong vụ Wimbledon năm 1923:

Tòa từ chối cho rằng, khi ký kết các điều ước quốc tếmà theo đó một quốc gia cam kết thực hiện hoặc không được thực hiện một hành vi cụ thể, là một hành động từ bỏ chủ quyền. Không có bất kỳ nghi ngờ nào rằng một điều ước quốc tế tạo ra một nghĩa vụ thuộc loại này lại áp đặt giới hạn lên trên việc thực thi quyền chủ quyền của một Quốc gia, theo nghĩa là nó yêu cầu các quyền này phải được thực hiện theo một cách nhất định. Nhưng quyền tham gia vào các mối quan hệ quốc tế là một biểu hiện của chủ quyền quốc gia.” (“The Court declaines to see in the conclusion of any Treaty by which a State undertakes to perform or refrain from performing a particular act an abandonment of its sovereignty. No doubt any convention creating an obligation of this kind places a restriction upon the exercise of the sovereign rights of the State, in the sense that it requires them to be exercised in a certain way. But the right of entering into international engagements is an attribute of State sovereignty.”, Judgement of 17 August 1923, p. 22.)

Về vấn đề này, tác giả cũng từng nghe Giáo sư Allain Pellet trả lời. Giáo sư cho rằng việc ký kết điều ước quốc tế không thể xem là ảnh hưởng đến chủ quyền của quốc gia, bởi lẽ chủ quyền của các quốc gia là bình đẳng – nguyên tắc bình đẳng chủ quyền – do đó không thể có chuyển chủ quyền của một quốc gia ký kết nhiều điều ước quốc tế lại hẹp/giới hạn hơn so với một quốc gia ký kết ít điều ước quốc tế hoặc không ký kết bất kỳ điều ước quốc tế nào.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: